YẾU TỐ RỪNG TRONG VĂN HÓA RAGLAI

Trong tác phẩm Triết học nghệ thuật xuất bản năm 1880, H.TAINE[1] cho rằng:“Sau khi đã xác định cấu trúc tinh thần của một chủng tộc, cần phải nghiên cứu môi trường mà chủng tộc đó sống, bởi con người không cô độc trong thế giới. Bao quanh con người là thiên nhiên và những người khác...”, vì vậy, nghiên cứu văn hoá của người Raglai không thể bỏ qua môi trường tự nhiên mà họ đang sống: Núi - Rừng.

Núi rừng của người Raglai sinh sống hàng trăm năm nay chỉ ở độ cao trên dưới 500mét so với mặt biển. Tất cả mọi hoạt động sống của họ luôn gắn bó với núi rừng. Núi rừng tồn tại trong không gian và là tự nhiên có trước. Khi người Raglai đến cư trú trên địa bàn tự nhiên này, cùng với quá trình tồn tại và phát triển trong không gian núi rừng họ đã sáng tạo ra các giá trị văn hoá liên quan đến môi trường tự nhiên này. Giá trị của núi rừng trong văn hóa là sản phẩm trực tiếp của người Raglai, nói cách khác, núi rừng gián tiếp sáng tạo ra các giá trị văn hóa của người Raglai. Do đó, nghiên cứu văn hóa núi rừng trong văn hoá của người Raglai chính là đi tìm những giá trị của núi rừng được biểu hiện như thế nào trong các thành tố chứa nó.

Núi rừng được người Raglai tận dụng hầu hết trong mọi hoạt động sống của họ. Bước ra khỏi nhà là họ đã ra đến rừng, thậm chí nhà cũng được cất ngay dưới những tán cây rừng. Ngay từ sáng sớm, mở mắt ra người Raglai đã thấy sừng sững trước mặt là núi và những cánh rừng ngút ngàn. Tiếng rừng thở cùng với họ từ trên sàn nhà, theo bước chân lên nương, nghỉ ngơi dưới tán rừng và đêm về lại nghe tiếng suối, tiếng gió của thổi muôn ngàn lá rừng như ru họ từ những câu hát kể sử thi, theo họ vào giấc ngủ để sáng sơm mai lại ra gặp lại rừng núi.

Rừng có hàng trăm loại gỗ quý để làm nhà ở, nhà kho và phục vụ cho lễ nghi tín ngưỡng khi làm nhà mồ. Tri thức bản địa của người Raglai truyền lại cho con cháu nhận biết được các loại gỗ dầu, lim, gõ, sến, táu, hương… loại nào có thể dùng làm cột chôn xuống đất không mối mọt, không mục ruỗng vì ẩm; loại cây nào có thể “dầm sương dãi nắng” để làm các trụ cọc cho các cây tiêu, cho mướp bầu bí leo giàn từ năm này sang năm khác không hỏng; phân biệt được loại cây nào làm nhà nhưng ở phần trên cao (rui, mè, đòn tay, kèo) vừa nhẹ vừa bền chắc. Rừng cho họ hàng trăm loại dây khác nhau để cột, chắp, nối bền chắc… Nếu hỏi bất kỳ một người Raglai nào về công dụng của cây song mây, có lẽ chúng ta đều được trả lời giống nhau. Đó cũng chính là sự tiếp nhận tri thức của lớp cha ông để lại và là sự trải nghiệm của họ trong hiện tại đối với rừng -núi.

Mỗi palơi Raglai cổ chỉ trên dưới 20 hộ gia đình và cũng không bao giờ chọn những thung lũng để cư trú. Theo quan niệm của họ, thung lũng là lối đi của ma quỉ. Người ta cũng không cư trú trên sống lưng của quả đồi vì đấy là đường đi của các thần. Giữa hai khe núi hẹp cũng không phải là không gian của con người. Vì vậy, người Raglai chỉ ngủ ở lưng chừng núi. Đó là không gian họ được quyền sở hữu mà không xâm hại đến thế giới khác rất cần đến sự tôn trọng. Để cúng núi rừng hàng năm, người Raglai thường mở đầu đầu bài khấn của mình bằng những lời:

“Trai pu!

Chưq dlai mũ Cơi Masrĩh Mỏq Vila chupaq luơi,

Pachũc palơi mucơi lagar tanãh riya ia djuh.

Chưq dai jơc yàc chưq chuah tanãh lagar pu vhum vhòq choq akiaq yàc hulơu luai yàc tacai ia cat jua haravalơu vurùq catuaiq ahũc danan vinủq riya cha-na cha-uơr…”

Tạm dịch:

“Cầu bái chúa thần!

Núi rừng là do trời đất ông bà tổ xưa để lại,

Giữ cho vững chắc làng xóm, cho trường tồn xứ sở đất đai, sông suối nước củi.

Núi rừng có nhang cây, con sông dòng suối có nhang sông nhang suối, ao hồ mương máng…”

Bên cạnh nhang núi (yàc chưq), nhang rừng (yàc dlai), nhang nước (yàc ia)… ban cho con người của cải trong rừng, cấp nguồn nước để ăn uống và chăm sóc cây trồng, rừng còn có nhang độc, nhang xấu, ó malai hại người (yàc lageh jhàq vhòq salac camalai majin).

Người Raglai vẫn yên tâm sống ở núi rừng hàng ngàn đời nay vì họ vẫn tin tưởng rằng rừng không có ma thú dữ. Cọp báo ăn thịt người là chúng đã phạm vào điều ác, phản lại chúa nhang rừng sẽ bị trừng trị những con vật hung ác đó nếu chúng xâm hại đến người.

Sông suối, núi rừng là của nhang, của trời, của chúa thần, vì vậy người Raglai chỉ biết tôn trọng và gìn giữ bằng cách làm nhà ở xa dòng sông lớn, xa đất đai bằng phẳng, xa hồ ao, xa đỉnh núi cao và cấm kị không mang những đồ vật được xem là ô uế đối với núi rừng như soong nồi, đá táo, cối giả, sàng sãy, nong nia. Nếu vi phạm nhang sẽ phạt vạ. Cây to tuyệt đối không được chặt, không làm sứt mẻ; không được làm rẫy nương ở núi cao. Đất bằng là ruộng đất của nhang, cây to là nơi các vị thần trú ngụ. Hồ ao là ruộng của ông bà. Sườn núi đồi là đường đi của các vị thần. Theo quan niệm của người Raglai, thần linh cũng sản xuất và ăn ở như loài người, họ ăn ở tại thế giới riêng nhưng các tài sản của họ lại chung với con người.

Núi rừng từ xa xưa đã gắn chặt vào người Raglai trong mọi hoạt động sống của mình, ngay bản thân họ, một số người chúng tôi phỏng vấn vẫn tự nhận là người của rừng (Ràc dlai). Là người của rừng núi nên người Raglai ở chổ nào, sản xuất ở đâu cũng đều phải xin phép thần núi, thần rừng, tuyệt đối không xâm phạm vào đất đai của người khác. Mỗi gia đình, mỗi làng đều có “địa giới riêng” của mình để canh tác, cư trú. Người nào đi lang thang không có nơi ở cố định được xem là người khỉ. Vì chỉ có kẻ độc ác mới sống lang thang, kẻ đó như con ong không có tổ, như con khỉ không có bầy.

Núi rừng người Raglai ở nhiều sông , suối, có nhiều vũng sâu. Nước được người Raglai sử dụng là nước của những dòng suối hàng năm không có lũ quét gây ra sạt lở đất, nước luôn trong vắt. Trước đây theo quan niệm của họ nước trong vắt của những dòng suối không bị sạt lở này có thể uống ngay, không cần đun sôi. Để giữ môi trường trong làng luôn trong sạch và giữ nguồn nước uống chung cho cả làng, nhà ở người Raglai luôn ở xa dòng suối. Nước được dẫn về đến sàn ngoài nhà sàn, dẫn về đến nền nhà nhờ vào hệ thống mương máng. Mương máng này có thể làm bằng cây lồ ô, cây cau hay cây đùng đình (như cây cau, cây dừa nhưng mọc ở trong rừng chứ không phải là cây trồng). Đàn ông, trai tráng thì được ra sông ra suối tắm rửa. Đàn bà, con trẻ thì dùng nước từ mương máng để nấu ăn, giặt áo quần…Nước sử dụng xong lại cho chảy theo đường rãnh ra xa nhà và cho thấm vào đất chứ không được cho chảy vào sông suối. Đây là điều kiêng cử, vì nhang nước (yàc ia) sẽ phạt vạ nếu làm ô uế.

Rừng cây cối cỏ tranh là vợ bé của thần Mặt trời. Đi ngang đám cỏ tranh phải đi nhanh, không đi bằng chân không, phải mang giày, mang dép. Đi chậm ông mặt trời tưởng chúng ta quan hệ với vợ bé, ông sẽ cho gai tranh đâm và chân ngay. Vì vậy, khi đi đâu trở về gặp lúc trời xế chiều, người Raglai thường buộc ba túm cỏ tranh lại vác trên vai và nói: “Ông trời phải chờ vợ ông với, vợ ông đang có chữa có mang trong bụng không đi nhanh theo ý của ngài được. Tui đang đi với vợ ông đây, ông hãy chờ vợ ông với”. Nếu làm như vậy dù đi thêm mấy rựa[1], mặt trời có cách một sải tay vẫn về đến nhà kịp lúc trời tối.

Người Raglai có tập quán canh tác trên đất rẫy của ông bà mình để lại. Núi nào thì làng đó thờ, rẫy nhà nào thì nhà đó canh tác chứ không xâm chiếm qua rẫy nương người ta. Đất rẫy được chôn cất người chết trong gia đình mình, tuyệt đối không chôn sang đất rẫy người khác. Hoa màu thu hoạch được, nếu chưa cúng cho nhang thì nhất thiết chưa được ăn. Làm cháy núi cháy rừng là phạm đến chổ ở các vị thần linh. Đốt rẫy mình làm cháy rẫy nương hoa màu, cháy mồ mả của người khác, ăn cắp hoa màu rẫy nương người khác .. . là điều tối kị. Người vi phạm sẽ bị cọp bắt, rắn cắn, trời sẽ khiến xui cho chết bất đắc kì tử (valah vanriac)…

Khi làm rẫy, người Raglai có tục làm đường ranh trước khi đốt rẫy gọi là papahnã. Công việc này cả làng cùng giúp nhau, lần lượt đổi công hết nhà người này sang nhà người khác. Mùa đốt rẫy cũng là mùa uống rượu cần. Các nhà có rẫy đốt trong năm gọi là djùq tapa pa papahnã chuh tanãh.

Người Raglai từ xưa đến nay giữ gìn rừng núi rất kỹ lưỡng, họ không dám để ra cháy rừng. Khi được hỏi ở các khu vực ở Khánh Sơn cũng như ở vùng khác có người Raglai cư trú nhưng không có rừng nữa, những cánh rừng rậm rạp xưa kia nay chỉ toàn lau lách, cỏ tranh… thì các người già[2] Raglai trả lời rằng trước đây có một tộc người khác đến đây ở (?). Họ có tập quán canh tác khác hẳn với người Raglai. Họ khai thác cả núi để canh tác, làm nương rẫy đến cạn kiệt núi rừng làm cho cây không mọc, không còn ai đi rãi hạt giống cây trên núi nữa nên mới thành đất trống đồi trọc[3]. Những người này đã phá lâu đài của chúa thần, của nhang, làm sụp đổ núi. Núi rừng là của người Raglai, nay núi rừng bị tàn phá, lâu đài của thần bị sụp đổ thì người Raglai phải gánh chịu tai ương, bị dịch bệnh hạn hán hoằng hoành. Vì người Raglai không biết gìn giữ nơi cư trú của thần linh, thú rừng bị săn bắt, bị giết hại thì kẻ mang tội vẫn là người Raglai(?).

Khi nơi cư trú của người Raglai xuất hiện tộc người khác đến ở, họ luôn cảm thấy bất an vì sợ những người này xâm hại đến núi rừng mà người phải gánh chịu hậu quả lại chính là họ. Đây cũng chính là điều giải thích (của chúng tôi) hiện tượng bỏ đi dần vào trong rừng, trên rẫy của người Raglai khi người Việt hay tộc người khác đến chung sống. Về vấn đề này, chúng tôi đã trao đổi với GS Ngô Đức Thịnh[4], giáo sư cho rằng đây là hiện tượng xung đột văn hoá giữa các tộc người.

Khi cây rừng ra hoa, đó là lúc người Raglai nhận biết được một năm mới đã bắt đầu. Cùng với hoa cây rừng là những công việc sản xuất theo chu kỳ trong một năm với nương rẫy, Từ những công việc đó người Raglai đặt tên tháng trong một năm:

Tháng Một: Hoa cây

Tháng Hai: Sấm la=tiếng sấm báo hiệu những cơn mưa đầu mùa (grưm manhĩ)

Tháng Ba: Đốt rẫy

Tháng Tư: Trỉa lúa

Tháng Năm: padai lacơi (lúa con trai=Lá lúa bắt đầu có vòng cườm)

Tháng Sáu: Tìat cumơi (lúa thì con gái=Đẻ nhánh)

Tháng Bảy: Trổ bông

Tháng Tám: ăn cơm mới

Tháng Chín: Suốt rẫy

Tháng Mười: Kakìq (thu hoạch xong)

Tháng Mười một: Puihmàc (nắng hanh, tháng tết)

Tháng Mười hai: Wup wơr (tháng lãng quên, tháng lễ hội).

Bên cạnh việc rừng cung cấp cho họ cây cối làm nhà ở, trong tri thức dân gian của người Raglai còn biết tận dụng những loại cây, con trong rừng để chữa bệnh như :

- Chữa đau bụng, ho: Củ (rễ) sa nhân;

-Cầm máu: cây họ sắn dây, cây xương gà;

-Chữa bong gân, đứt gân, các vết thương: cây Jrãu Varavup (đực), jrãu uraq (cái);

-Chữa đau răng: các loại cây có chất liệu cay rilùc, cây ri-ieng, cây dây teh... dùng để nhét vào chân răng khi nhức;

-Chữa đau bụng: Cây Tô Hạp (Turùp), trầm hương (Gahlơu);

-Tổ ong nhựa xông hơi chữa bệnh đậu mùa;

-Mật ong để rà miệng chữa bệnh cho trẻ em, mật gấu để chữa bệnh đau mắt…

Để tận dụng các loại thức ăn có sẵn trong rừng, kinh nghiệm của người Raglai đã truyền lại cho con cháu nhận biết các loại hoa quả nào có thể ăn được, loại rau nào mọc trong rừng có thể làm thức ăn hàng ngày, củ loại cây gì có thể giúp họ qua cơn đói trong mùa giáp hạt… Sau mỗi mùa mưa các loại nấm mọc trong rừng có nhiều cây dầu (thông, pơmu) màu trắng sữa thì hái chứ màu đỏ tuyệt đối không đụng vào; nấm mọc ở rừng cây le, cây lồ ô nếu có màu tím là độc, nấm màu vàng ăn rất ngon và bổ; các loại nấm mọc trên đất tổ con mối hầu hết đều ăn được; nấm mọc trên các thân cây mục có thân mềm, dòn thì hái, nấm cứng thì đừng…

Vào một ngôi nhà của người Raglai, có thể khẳng định toàn bộ các đồ dùng của họ đều có nguồn gốc từ rừng, hoặc qua các cuộc trao đổi từ lâm thổ sản[5].

Người Raglai chăn nuôi các loại gia súc: heo, trâu , bò, dê; các loại gia cầm: gà, vịt… đều thả rong vào rừng chứ không làm chuồng trại. Trong akhàt Jucar Raglai đã kể về sự việc chuẩn bị cho một đám cưới[6]. Người chủ làng phân công bọn thanh niên trai gái trong làng gái măng, hái rau rừng để về nấu các món ăn truyền thống:

“-Hãy đi lấy canh rau mang về cho non thôi đấy,

Này đây hãy đi lấy măng rừng hái về chỉ lấy búp tre non thôi,

Hãy bắt con heo to cỡ bước nhảy qua, bắt con heo to cỡ chừng năm người khiêng mới vừa chừng này là được.[7]

Với con trâu có sừng khoảng một chẻ tre là được, cái sừng dài tới cổ trâu này đây[8].

Có như vậy mới cho đút miệng ăn cho đủ hàng em người ta,

Như thế mới đủ cho việc đút miệng ăn hàng người chị,

Ăn này đây cho đủ khắp hết nhau,

Ăn này đây cho đủ khắp cả mọi người…”

(Akhàt Jucar Raglai: AWƠI NÃI TILƠR)

Cây cau non, cây đa nhỏ trên rừng còn là hình ảnh của các chàng trai cô gái Raglai trong các câu dân ca khi họ đối đáp, tìm hiểu nhau khi mới gặp gỡ buổi đầu

“ Ơ… Cây cau, hỡi cây cau,

Ơi… Hỡi cây cau, cây cau ơi!

Hãy nói lời thơm như trầm hương!

(Điệu Rutu: Lý Hái cau rừng)

Hay trong làn điệu Alơu:

“…Tụi tui là cây đa còn nhỏ,

Tụi tui là cây sung , Cây sung nhỏ nhắn .

Là cái khay trầu nhỏ ,

Để chuẩn bị cho các cuộc lễ quanh năm, người Raglai đã có một loại thức uống truyền thống như hầu hết các tộc người Tây Nguyên: Rượu cần. Rượu cần được làm bằng các loại khoai mì, bắp, sắn, bobo (cao lương) trong trên nương trên rẫy trộn với men danruq dawai lấy trong rừng, ngày nay họ sử dụng các loại men rượu bán ở chợ cho tiện và nhanh. Tuy vậy, trong những cuộc lễ lớn gia đình họ vẫn thường làm rượu cần từ men này, người Raglai thường nhắc nhau trong pacap[9]:

“Chưq char lagar drơi ngãq chapaq voh tupơi

Mũ danruq dawai tacai pateh tacai hureq lacuah ugha catơr amreq...”

(Núi nguyên xứ sở của ta có đủ đồ làm men rượu,

Bằng cây thuốc daruq dawai củ gừng bo bo ớt...)

Trong các Akhàt Jucar Raglai cũng nhắc đến loại men này:

“… Awơi Via Valìq nói:

-Rượu cần này người ta chẻ măng làm chua của măng tre ngà đó thôi.

Nào có khác lòng nhau đâu,

Này đây men làm bằng củ danruq chứ có khác gì.

Cũng là củ danrưq[10], Này dùng củ thuốc Jawai có khác gì nhau

(Akhàt Jucar AWƠI NÃI TILƠR)

Rừng núi bạt ngàn nhưng đối với người Raglai ở Khánh Hòa đều đã có chủ để giữ gìn, để canh tác. Mặc dù không hề có một văn bản chữ viết nào quy định nhưng khi thành lập một palơi người Raglai ở Khánh Hòa lấy 3 ngọn núi trong địa bàn của palơi “phân công” cho 3 dòng họ chính phụ trách: Họ Mấu/Máu (Chamaliaq), dòng họ Bo Bo (Catơr) và Cao/Cau (Pinang). Mỗi dòng họ thực hiện việc cúng lễ rừng/núi hàng năm. Việc cúng núi diễn ra bắt đầu vào tháng Grưm manhĩ (sấm la), tức là lúc phát dọn chuẩn bị gieo trồng vụ mới hay còn gọi là mùa rìu mùa rựa. Trong dòng họ đóng góp lễ vật cau trầu, gà, rượu cần để cúng núi của mình. Cứ 3 năm lại cúng lớn một lần, và chu kỳ 7 năm lại cúng lớn nhất. Lễ vật trong các kỳ cúng lớn này là heo, bò. Sau khi cúng núi xong họ tiếp tục cúng đất (vhum tanãh). Lễ vật cúng núi như thế nào thì cúng đất đai như vậy. Trường hợp nếu trong dòng họ có người vi phạm luật tục cần phải cúng tạ núi rừng thì dòng họ nào về núi đó. Đây là điều bắt buộc nếu không tai họa sẽ liên quan đến vận mệnh cả làng. Riêng đối với họ Tro, họ Môn… do không có núi riêng trong palơi thì căn cứ mối quan hệ đối với dòng họ nào trong palơi thì cúng ở núi dòng họ mình liên quan.

Trong văn hoá sùng bái với rừng núi, người Raglai không bao giờ lên đỉnh núi mà họ chỉ ở và canh tác giữa lưng chừng núi. Rừng được phân loại theo để mọi người trong palơi biết mà thực hiện theo adãt panuãiq (luật tục), bao gồm:

Rừng núi trên đỉnh là rừng thiêng, rừng cấm tuyệt đối: Cuang Pu Via;

Rừng núi Sanõh là rừng của riêng từng gia đình;

Rừng thần độc (Vhòq Salah)

Rừng để chôn những người chết vì dịch bệnh[11] (Dlai huang adhang adhaq, dlai luiq);

Rừng /núi để canh tác: Duh Puq chưq.

Trong thành ngữ, tục ngữ (pacap) của người Raglai có nhiều câu nói về việc phân loại rừng để truyền lại cho người sau nhớ mà ứng dụng:

-Dlai jalưc catưc bùr (Rừng ngàn rậm rạp)

-Dlai tuha inã mum (Rừng già lắm bồ hóng)

-Chưq jiơc padai dlai jiơc gilo (Núi sanh lúa rừng sanh bắp)

Người Raglai luôn dạy bảo con cháu không bao giờ phá rừng làm rẫy, nếu phá rừng là vi phạm điều cấm kị. Luật tục Raglai đã quy định:

“…Không được làm nhà ở, Không được phát nương làm rẫy bừa bãi.

Người xưa tin rằng:

Đỉnh núi, đỉnh đồi, rừng đầu nguồn, rừng còn nguyên

Là nơi trú ngụ của thần linh

Chặt phát rừng là xúc phạm đến thần linh

Sẽ bị các thần gây ra sạt núi, lũ lụt…”

[Phan Đăng Nhật (cb) 2003:754]

Luật tục của người Raglai cũng đã quy định để đối phó với sự tức giận của nhang thần rừng núi, để cầu mong sự yên bình, con người phải:

“…Hãy têm trầu cau

Hãy cầu xin với Thần Rừng, Thần Núi

Xin cho chim, cho heo, cho gà

Xin cho lúa nhiều, nhiều bắp

Xin cho mọi sự đầy đủ

Chiêng đánh, vòng đeo, nhiều ơn nhiều lộc…”

Cho đến nay một bộ phận người Việt vẫn cho rằng những dân tộc Tây Nguyên chặt phá rừng làm nương rẫy là bản năng của họ. Điều này hoàn tòan trái ngược với truyền thống của người Raglai nói riêng và hầu hết những dân tộc ở Tây Nguyên. Văn hoá tận dụng của rừng, người Raglai cho rằng:

“…Rừng là mái nhà thiên nhiên

Rừng che chở ta, bảo vệ ta

Không có rừng lấy đâu ra măng, ra nấm.

Không có rừng lấy đâu ra dây để buộc, tre để đan…”

Và họ luôn xác định:

“…Cây to đầu núi, đỉnh đồi, đầu nguồn là chiếc đập ngăn nước

Không được chặt cây đa lâu năm, dây leo cuốn, cây sung thần

Không được làm rẫy làm nhà

Đầu núi chân làng, núi to bãi hoang…”

Để đối phó với sự bạc màu của đất đai canh tác, rẫy nương của người Raglai đều chia làm 3 loại:

Rẫy đang canh tác: Apu jahnãh

Rẫy bỏ đã 3 năm (còn thu hoạch chuối, đu đu, mít…):Apu Casor

Rẫy bỏ 10 năm (rẫy lâu lâu): Apu panroh

Khi rẫy bắt đầu bạc màu họ quay trở lại rẫy 10 năm để phát dọn và để dưỡng lại độ màu của các rẫy khác chứ không đi phát rẫy trên núi trong rừng. Các đất rẫy này là đất của ông bà để lại chứ không xâm phạm đến rẫy nương của người khác như luật tục đã quy định:

“…Rẫy cũ của ông bà

Rẫy mới của ông bà

Rẫy cũ của ông bà anh- anh ăn

Rẫy mới của ông bà tui-tui ăn…” [Phan Đăng Nhật (cb) 2003:445].

Một điều chúng tôi đã tìm hiểu được trong quá trình khảo sát, điền dã của mình ở các vùng miền núi Khánh Sơn, Khánh Vĩnh (Khánh Hoà), Bác Ái (Ninh Thuận) là người Raglai trước đây không bao giờ chặt cây trong rừng già, rừng nguyên sinh, rừng đầu nguồn nước để làm nhà. Họ sử dụng chính ngay những cây cối lấy trong rẫy 10 năm (Apu panroh) mang về làm nhà và các vật dụng khác.

Để đối phó với nạn cháy rừng, người Raglai luôn dạy bảo con cháu luôn phải cẩn thận với việc sử dụng lửa trong rừng. Khi đốt rẫy để canh tác, họ luôn đốt vào lúc đứng gió hay khi gió nhẹ, đốt xong dập hết lửa mới ra về. Nếu ai vi phạm gây ra cháy rừng sẽ bị phạt theo luật tục:

“…Ông bà tổ tiên người Raglai xưa đã dạy

Cấm không được làm cháy nơi thờ thần Rừng, thần Núi…

…Kẻ đốt lửa làm thần linh bị nóng bị bỏng

Kẻ đó đã xúc phạm tới thần linh

Bởi thế nó đã phạm một lỗi rất nghiêm trọng

Cần phải đưa ra xét xử

Với hình phạt nặng nề để làm gương cho kẻ khác…”

Có thể nói hình ảnh của núi rừng, các cây con sống trong rừng đọng lại rất lớn và chiếm hầu hết trong pacap của họ về phương thức sản xuất, canh tác; kinh nghiệm thời tiết khi nhìn núi rừng. Không những thế họ cũng đã đưa hình ảnh những bông hoa trong rừng, đám mây trên đỉnh núi trở thành hoa văn ở một số đồ dùng như ná, ống tên, cán dao của người đàn ông khi lên rẫy; trên váy, áo của phụ nữ Raglai trong các ngày lễ hội palơi...

Những điều nói trên trong văn hoá của người Raglai là hiển nhiên bởi chính khi tương tác với môi trường của rừng núi, người Raglai đã sáng tạo ra văn hoá của chính họ, một môi trường chủ đạo, gắn bó hàng ngày năm nay với tộc người này như bao tộc người Tây Nguyên khác.

____________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU

1. NGÔ ĐỨC THỊNH 2004:Văn hóa vùng & phân vùng văn hóa ở Việt Nam. –TpHCM: NXB Trẻ, 425 trang.

2. NGÔ ĐỨC THỊNH 2006: Văn hóa – Văn hoá tộc người và văn hoá Việt Nam. –H: NXB Khoa học Xã hội, 861 trang.

3. NGUYỄN THẾ SANG 2001: Akhàt Jucar Ra-glai . – H: NXB Văn hóa Dân tộc, 872 trang.

4. NGUYỄN TUẤN TRIẾT 1991: Người Raglai ở Việt Nam. – NXB Khoa học xã hội.

5. PHAN ĐĂNG NHẬT (cb) Tô Đông Hải, Sakaya, Chamaliaq Riya Tỉenq, Trần Vũ 2003: Luật tục Chăm và Luật tục Ra-glai. – H: NXB VHDT, 844 trang.

6. PHAN NGỌC 2005: Văn hoá Việt Nam và các tiếp cận mới. – H: NXB VHTT, 245 trang.

7. PHAN XUÂN BIÊN (cb), Phan An, Phan Văn Dốp, Võ Công Nguyên, Nguyễn Văn Hụê 1998: Văn hóa và xã hội người Ra-glai ở Việt Nam. –HCM: NXB KHXH, 346 trang.

8. TRẦN NGỌC THÊM 1996/2004: Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt Nam. – Tp HCM: NXB Tổng hợp (tái bản lần thứ 4), 690 trang.

[1] Hippolyte Taine (1828-1893) là nhà triết học, sử học và phê bình văn học Pháp có ảnh hưởng lớn trong tư tưởng học thuật thế giới.

[1] Rựa nhỏ đi rừng vác trên vai, mỗi lần mỏi, trở vai được tính là một rựa.

[2] Người già: tuha- không đồng nghĩa với già làng.

[3] Khi hỏi là dân tộc nào thì họ không nói rõ mà chỉ khẳng định không phải là người Raglai. Điều này chúng tôi chỉ ghi nhận và sẽ tiếp tục tìm hiểu là ai.

[4] Tháng 5/2005 tại Khánh Sơn, trong chuyến khảo sát trữ lượng Akhàt Jucar Raglai của Viện Nghiên cứu VHDG (Nay là Viện Nghiên cứu VHVN)

[5] Lâm sản ở đây là các loại cây trái, củ để ăn và làm thuốc. Thú rừng và cây gỗ rừng người Raglai không bao giờ làm vật trao đổi.

[6] Hầu hết các Akhàt Jucar Raglai chúng tôi sưu tầm được đều có mô tả đám cưới của nhân vật chính. Chưa thấy sử thi nào không có.

[7] Con heo to giết chết đặt nằm rồi người lớn muốn bước qua phải nhảy thì được. Nói con heo to bằng bò. Có nghĩa con heo phải to như con bò. Do người Raglai không có hệ thống đo lường bằng kilôgam, tạ, tấn nên phải ước lượng bằng cách gang tay, bước chân hoặc lấy vật khác để miêu tả cho vật muốn nói.

[8] Do con trâu to quá nên người ta tính chiều dài từ cổ tới đầu trâu bằng đốt tre lớn. con trâu có chiều dài như vậy bằng một lóng tre là trâu đã đủ lớn.

[9] Thành ngữ, tục ngữ ca dao= Pacap

[10] Danuruq: Một loại củ rừng dùng để làm men cất rượu thuộc họ nghệ , gừng.

[11] Người Raglai chôn người chết trong khu vực rẫy của mình chứ không có nghĩa trang riêng. Nghĩa trang chỉ dành cho những người vô thừa nhận, chết vì dịch.

Sưu Tầm

TỤC NGỦ THẢO CỦA NGUỜI RAGLAI NINH THUẬN

Như câu chuyện các cô sơn nữ người Thái, người Mèo, người H'mông "tắm tiên" ở vùng cao Tây Bắc, khi biết người Raglai ở 2 huyện miền núi Ninh Sơn và Bác Ái thuộc tỉnh Ninh Thuận có tục "ngủ thảo", chúng tôi nhanh chóng lên đường. Không ngất ngây, mê đắm sao được khi nhiều người râm ran rằng với tục ngủ thảo ấy, chàng trai khi thích cô sơn nữ xinh đẹp nào đấy sau ánh mắt chan chứa xuân tình trao gửi, chỉ việc chờ tối đến gõ cửa và từ đây sẽ thỏa ước mơ được chung chăn chung gối với người đẹp miền sơn cước?!

Làng Ma Oai dưới chân núi Tà Năng (xã Phước Thắng, huyện Bác Ái) một chiều tháng 6 đón khách trong khung cảnh buôn làng bình yên đến lạ. Trong tiếng mã la vui nhộn (nhạc cụ bằng đồng như cồng chiêng ở Tây Nguyên nhưng không có núm, vỗ bằng tay chứ không gõ bằng dùi), nghe hỏi chuyện "ngủ thảo", nghệ nhân Pi-năng Thị Tâm, nữ nghệ nhân tinh thông nhiều nhạc cụ cổ truyền của tộc người Raglai, là niềm tự hào của buôn làng, nhoẻn miệng cười bật mí rằng từng có một thời, chàng trai cô gái người Raglai trước khi thành vợ thành chồng đều trải qua những đêm ngủ thảo: "Ngủ thảo là ngủ chung với nhau để tâm tình, để hiểu nhau rồi yêu nhau chứ không được làm chuyện vợ chồng bậy bạ".

Tục ngủ thảo có từ bao giờ, nghệ nhân Pi-năng Thị Tâm cùng những người già Raglai ở làng Ma Oai không ai rõ, chỉ biết rằng đó là tập tục đẹp được duy trì qua hàng trăm mùa rẫy trong tộc người, là tập tục đón khách khác giới nghỉ chân qua đêm tại nhà mình: "Nguyên gốc tục này chỉ dành cho nam nữ gặp nhau trong những đêm trăng sáng khi làng có hội, như lễ ăn đầu lúa, lễ cưới, nhất là lễ bỏ mả…" - già làng Pi-năng Tư, ngoài 70 tuổi, nói.

Giọng trầm trầm, già làng Pi-năng Tư cho biết khi đã phải lòng nhau, những đôi trai gái "ngủ thảo" không chỉ ngủ một đêm mà rất nhiều đêm để thổ lộ, chuyện trò, tỏ bày hết lòng mình với nhau, để thấu hiểu lòng nhau, để khi biết rằng chẳng thể sống rời nhau, thường thì đôi trẻ sẽ đi đến hôn nhân. "Sau những đêm ngủ thảo, nếu không ưng thuận, không hiểu được nhau thì đôi trai gái chia tay. Nhưng lòng vẫn giữ những kỷ niệm đẹp, không có chuyện oán trách, dỗi hờn. Không là tình yêu thì là tình bạn trong sáng".

Tại xã vùng cao Ma Nới thuộc địa phận huyện Ninh Sơn, Chamaléa Âu - già làng và cũng là nghệ nhân duy nhất ở Ma Nới biết làm và khảy đàn chapi, loại nhạc cụ cổ truyền của người Raglai mà "ai nghèo cũng có" và khi rung lên thì "đong đầy hồn người Raglai (Giấc mơ Chapi - Trần Tiến), có tâm tình khác. Ông nói ngày trước, chẳng nề hà chuyện gái-trai, hễ thích nhau, ấn tượng nhau thì cô gái chủ động mời chàng trai "ngủ thảo" hay ngược lại: "Thường thì khi trai gái mời nhau ngủ thảo nghĩa là họ đã phải lòng nhau rồi. Khi "ngủ thảo" với nhau, không bao giờ có chuyện chàng trai hay cô gái nay "ngủ" với người này, mai "ngủ" với người khác. Người như vậy là không đứng đắn, không nghiêm túc. Người như vậy đi đến đâu cũng bị mọi người xa lánh, đuổi đi, không chấp nhận được".

Sẻ chia của lão nghệ nhân Chamaléa Âu cũng như nhiều già làng Raglai khác ở núi rừng Ninh Sơn - Bác Ái như vẽ ra trước mắt chúng tôi không gian êm đềm trong đêm thanh vắng giữa núi rừng bạt ngàn, hùng vĩ. Trong những mái tranh nhà sàn đơn sơ, từng đôi trai gái sau những rung cảm đã dìu nhau, nằm bên nhau, cùng chìm trong cõi mộng yêu thương với những sẻ chia, những tỏ bày mong ước về một mái nhà đơn sơ ấm êm hạnh phúc với đàn con khỏe mạnh. Trai gái Raglai đến với nhau trong những đêm "ngủ thảo" chỉ đơn giản như thế thôi. Chân tình, giản dị, trong sáng như ánh trăng soi trên mặt nước!

Đêm Ma Nới se lạnh. Bên ánh lửa bập bùng, bên ché rượu cần ngào ngạt hương lúa rẫy, thơm mùi rừng, đậm mùi rừng, nghệ nhân Chamaléa Âu cho biết, thường thì trai gái Raglai gặp nhau, mời nhau "ngủ thảo" trong những đêm làng làm lễ bỏ mả. Người Raglai quan niệm lễ bỏ mả là những ngày vui bởi đây là thời điểm mà người chết không còn bị thần đất đai giam cầm trong không gian đen tối. Lễ bỏ mả là thời điểm người chết được tự do, được lên khỏi mặt đất, được người sống đãi đằng cho ăn uống no say và quan trọng nhất là được siêu thoát về với ông bà tổ tiên… Vui với niềm vui của người chết nên trong những đêm bỏ mả, người Raglai cùng làng và người đến từ những làng khác cùng nhau tấu mã la, hát đối đáp, uống rượu cần... Đây cũng là dịp để trai gái các làng lân cận gặp gỡ, tìm hiểu, trao đổi tâm tình với nhau với những ước mong nên duyên nên lứa.

Khi đến xã vùng cao Phước Chiến ở huyện Bác Ái, chúng tôi được một số già làng hồi ức vào những đêm bỏ mả, bà con Raglai ở các xã lân cận như Phước Thắng, Phước Đại… đổ về chung vui như hội. Lúc này, hàng chục ghè rượu cần được trải dài tại rừng ma (nơi chôn người chết) với thịt cá, rau rừng ăm ắp. Trong khi những người già, người lớn tuổi tề tựu uống rượu, ăn uống, hút thuốc thì thanh niên các làng đến giao lưu, tìm hiểu và hát giao duyên, hát đối đáp, biểu lộ tài năng sử dụng các loại nhạc cụ dân gian cũng như trao gửi tâm tình với người khác phái bằng các loại đàn môi… Trong quá trình giao lưu ấy, nếu thấy hợp mắt, thấy cảm mến, thấy cái lòng lưu luyến, đôi trai gái sẽ trò chuyện với nhau, cùng nhau tấu mã la và sau cùng mời rủ nhau "ngủ thảo".

Sau những đêm ngủ thảo, sẽ có nhiều đôi lứa tâm đầu ý hợp nảy sinh tình yêu. Thường thì sau giai đoạn ấy, cô gái bắt chồng (người Raglai theo chế độ mẫu hệ, con gái chủ động bắt chồng, con sinh ra lấy họ mẹ) bằng cách về thưa với bố mẹ để người lớn quyết định chuyện trăm năm. Lúc này cha mẹ phía chàng trai lẫn cô gái sẽ hỏi các bậc cao niên trong làng xem mối quan hệ ấy nếu tiến đến hôn nhân có vi phạm những nguyên tắc loạn luân, trùng huyết thống hay không. Nếu không thì đến lượt các yếu tố ngoại hình, tính nết, sức khỏe của chàng trai, cô gái… mới được hai bên gia đình xem xét!

Và khi không có gì trở ngại, từ đây nhiều cặp trai gái "ngủ thảo" ngày nào trở thành vợ chồng và sinh con đẻ cái. Điều này phản ánh quy luật trong sinh có tử, trong tử có sinh, sự sống bắt đầu từ cái chết trong đêm bỏ mả của người Raglai: Khi một người chết đi đã mở ra cơ hội, khai sinh sự sống cho nhiều người khác tiếp tục gia nhập cộng đồng.

Đêm ngủ thảo là nét sinh hoạt văn hóa trong sáng, mang đậm tính triết lý nhân sinh của người Raglai là thế. Những người già Raglai mà chúng tôi tiếp xúc đều khẳng định trong những đêm ngủ thảo, trai gái có thể ngủ với nhau đến sáng nhưng luật tục cấm mọi hành vi quá trớn, đi ngược với thuần phong mỹ tục, sự trong sáng của đêm ngủ thảo. Chúng tôi hỏi già làng Pi-năng Tư: "Nếu đôi trai gái không giữ được mình thì chuyện gì sẽ xảy ra?". Già ôm bụng cười khùng khục, nói nếu đôi trẻ ăn cơm trước kẻng, thường thì làng phía cô gái sẽ lên án tội lỗi của chàng trai và phạt nặng, buộc anh chàng quá đà phải nộp heo, nộp trâu cho làng và cho cả gia đình cô gái mà anh ta mạo phạm: "Làng phạt vạ nặng lắm. Làng phạt heo, phạt gà để đãi làng. Rồi phạt dòng họ của đứa trai đứa gái, buộc phải làm lễ tạ lỗi vì làm xấu mặt làng xóm, ô uế dòng họ…".

Cùng chung sẻ chia ấy của già làng Chamaléa Âu, ông Đá Mài Soai, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Ma Nới khẳng định "ngủ thảo" không như người ta đồn đoán xằng bậy, suy diễn trật giuộc rằng trai gái thích thì cứ việc tìm để ngủ chung với nhau rồi mai này đường ai nấy đi, chẳng có bất kỳ ràng buộc gì.

"Tục ngủ thảo của đồng bào rất trong sáng, không có chuyện vượt rào. Ngủ thảo để thanh niên nam nữ tìm hiểu nhau thôi, cháu ơi! Không có chuyện đứa trai xấu bụng nào chăm chăm mời con gái của làng ngủ thảo để làm chuyện bậy bạ đâu. Khi đứa trai ở làng khác đến giao lưu với cô gái ở làng sở tại, khi đồng ý ngủ thảo, cô gái xem giò chàng trai rất kỹ. Nếu anh ta không khỏe mạnh, không vỗ mã la hay, không có dáng vẻ của người đàn ông tháo vát, săn bắn giỏi, không được những người ở làng quý mến… thì sẽ không nhận lời ngủ thảo đâu" - ông Đá Mài Soai, bộc bạch.

Người Raglai xem tình dục rất thiêng liêng, có thần linh giám sát. Ai vi phạm những điều cấm kị trong hôn nhân như quan hệ bất chính, quan hệ tình dục bừa bãi, quan hệ tình dục tiền hôn nhân mà nhiều người gọi nôm na là "ăn cơm trước kẻng"… bị xem là làm theo, nghe theo lời ma quỷ xúi giục và sẽ bị làng phạt rất nặng. Các già làng kể rằng người phạm tội sẽ bị trưởng làng bắt úp mặt xuống đá rồi quất bằng roi lên khắp cơ thể, lên lưng, mông, bắp chân trước sự chứng kiến của đông đảo dân làng. Không những thế, có vùng đôi trai gái vi phạm còn bị buộc phải vào chuồng heo, vục mặt xuống máng ăn cám heo vì cho rằng chỉ có loài súc vật như con heo, con chó mới quan hệ tình dục bừa bãi. Nếu tái phạm sẽ bị đuổi ra khỏi làng.

Luật tục Raglai trừng phạt cho cái tội chửa hoang, "ăn cơm trước kẻng" là vậy. Vì sợ phạt, sợ xấu hổ với người thân, sợ làm cho dòng họ bị ô danh, sợ bị những dòng họ khác chê cười và quan trọng nhất là sợ xúc phạm thần linh (Yàng)… nên khi "ngủ thảo", cả chàng trai-cô gái luôn ý thức chuyện giữ mình. Điều này cho thấy sức mạnh của tín ngưỡng, của niềm tin tâm linh và luật tục vô hình đã điều chỉnh, duy trì đạo đức truyền thống xã hội của người Raglai trong một chừng mực nào đó nhiều khi có hiệu quả hơn pháp luật.

Bà Katơ Thị Sính ở thôn Maty, xã Phước Tân, huyện Bác Ái, cho biết bên cạnh việc xử tội nặng với những cô gái chửa hoang, những đôi trai gái "ngủ thảo" nhưng làm chuyện vợ chồng, luật làng luật tộc Raglai cũng nghiêm cấm và xử phạt nặng những người cùng huyết thống kết hôn với nhau, dẫu rằng đôi trai gái ấy tính theo dòng họ mẹ dù xa mấy đời.

Luật cũng quy định người cùng một họ, cùng nhánh cũng không được lấy nhau. Bà Katơ Thị Sính bật mí những lệnh cấm ấy có từ ngàn xưa và nay vẫn được những lớp con cháu đời sau tuân thủ nghiêm ngặt: "Ở palơi (làng), nếu ai phạm arih (tội nặng nhất, tội loạn luân) thì làng sẽ bị Yàng (thần linh) phạt nặng, làm cho đau bệnh, dịch bệnh, làm cho hạn hán mất mùa. Vì tội loạn luân là tội nặng nhất nên người phạm tội sẽ chịu hình phạt nghiêm khắc nhất".

Cần nhấn mạnh rằng trong quá trình tìm hiểu về vấn đề hôn nhân của người Raglai nói chung, tục ngủ thảo nói riêng, chúng tôi biết được rằng người Raglai ở Ninh Thuận sống rất chuẩn mực. Những vấn đề đi ngược với những nền tảng đạo đức sống như loạn luân, quan hệ tình dục bừa bãi, ngoại tình… và hẳn nhiên, quan hệ tình dục trước hôn nhân hiếm khi xảy ra. Và cũng cần nói rõ rằng tồn tại đến đầu những năm 90, tục ngủ thảo - nét văn hóa đặc sắc đồng thời là cách để người Raglai luôn nhắc nhau phải sống đẹp, sống có tâm hồn… ngày nay hầu như không còn nữa.

Những năm sau này, trước sự xâm nhập, tấn công của nhiều luồng văn hóa khác nhau, những giá trị truyền thống của tộc người Raglai dần mất đi, quan hệ tình dục tiền hôn nhân xảy ra ngày càng nhiều dần làm tan rã những giá trị truyền thống. Chính những chuyển biến không mong đợi ấy mà tục "ngủ thảo" bị lợi dụng, biến tướng nên dần bị lãng quên, để rồi "ngủ thảo" nay đã ngủ vùi trong ký ức của những người Raglai